Đổi mới toàn diện công tác quyết toán vốn đầu tư dự án theo Nghị định số 193/2026/NĐ-CP - Những điểm mới cần nắm vững

thứ năm, 13/08/2026 15:00

Ngày 01/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 193/2026/NĐ-CP quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, thay thế phần lớn các quy định về quyết toán dự án hoàn thành tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP, đồng thời bãi bỏ một số quy định liên quan tại Nghị định số 88/2025/NĐ-CP và Nghị định số 358/2025/NĐ-CP. 

Là doanh nghiệp nhà nước trực tiếp làm chủ đầu tư nhiều dự án đầu tư xây dựng, mặc dù VATM không thuộc đối tượng áp dụng trực tiếp của Nghị định này, tuy nhiên theo khoản 4 Điều 1 của Nghị định số 193/2026/NĐ-CP “Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể áp dụng quy định tại Nghị định này để lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án đối với các dự án không thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 1, khoản 2 Điều này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình”. Tổ triển khai các VBQPPL nhận thấy việc áp dụng Nghị định số 193/2026/NĐ-CP vào việc lập báo cáo quyết toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án đối với các dự án do Tổng công ty thực hiện là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quản lý đầu tư, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng công tác quyết toán và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Tổng công ty,  vì vậy Tổ triển khai các VBQPPL xin điểm qua các nội dung cốt lõi để các cơ quan, đơn vị, các cá nhân cán bộ, người lao động trong toàn Tổng công ty, đặc biệt là các đơn vị làm nhiệm vụ chủ đầu tư, ban quản lý dự án, kế hoạch - đầu tư, tài chính - kế toán, nắm vững và tổ chức triển khai thực hiện.

1. Một số nội dung mới đáng chú ý

a) Về báo cáo quyết toán và hồ sơ trình thẩm tra phê duyệt

Báo cáo quyết toán phải xác định đầy đủ, chính xác 5 nội dung bắt buộc: chi tiết vốn thực hiện đầu tư dự án; tổng chi phí đầu tư đề nghị quyết toán; chi phí thiệt hại trong quá trình đầu tư; chi phí được phép không tính vào giá trị tài sản; và giá trị tài sản hình thành. Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi 01 bộ hồ sơ đến người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán và 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chủ trì thẩm tra (trường hợp hai vai trò này trùng nhau thì chỉ cần gửi một bộ). Hồ sơ phải bao gồm tờ trình đề nghị phê duyệt, mẫu biểu báo cáo quyết toán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, các văn bản pháp lý của dự án, hồ sơ quyết toán chi phí của từng hợp đồng (trong đó có biểu mẫu quyết toán A - B theo Mẫu số 01/QTDA ban hành kèm theo Nghị định), báo cáo kiểm toán (nếu có) và các tài liệu liên quan đến kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước (nếu dự án đã bị thanh tra, kiểm toán).

Một điểm mới đáng lưu ý là quy định xử lý trường hợp nhà thầu không hợp tác quyết toán hợp đồng: chủ đầu tư phải có văn bản đề nghị nhà thầu thực hiện quyết toán theo Mẫu số 02/QTDA; sau khi đã gửi văn bản đến lần thứ 03 (mỗi lần cách nhau tối thiểu 10 ngày) và quá 15 ngày kể từ lần gửi thứ 03 mà nhà thầu vẫn không thực hiện, chủ đầu tư được quyền căn cứ hồ sơ thực tế đã thực hiện để lập hồ sơ quyết toán mà không cần chữ ký, con dấu của nhà thầu, đồng thời ghi rõ việc nhà thầu không hợp tác trong tờ trình. Đây là cơ chế quan trọng giúp các ban quản lý dự án của VATM chủ động xử lý dứt điểm tình trạng nhà thầu chậm trễ, kéo dài thời gian quyết toán như đã từng phát sinh trong một số dự án.

b) Về thẩm quyền phê duyệt và cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán

Nghị định quy định rõ, đối với dự án quan trọng quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, người đại diện theo pháp luật của tập đoàn, tổng công ty nhà nước là người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán đối với dự án, dự án thành phần, tiểu dự án độc lập sử dụng vốn đầu tư công, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước hoặc vốn ngân sách nhà nước khác thuộc phạm vi quản lý của đơn vị mình. Đối với các dự án khác, người có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án đồng thời là người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán. Cơ quan, đơn vị có chức năng thuộc quyền quản lý được giao chủ trì tổ chức thẩm tra quyết toán trước khi trình phê duyệt; trường hợp cần thiết có thể thành lập Tổ thẩm tra với sự tham gia của đại diện các đơn vị liên quan.

c) Về kiểm toán báo cáo quyết toán

Các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A (trừ dự án thuộc danh mục bí mật nhà nước) sử dụng vốn đầu tư công, vốn ngân sách nhà nước bắt buộc phải kiểm toán báo cáo quyết toán trước khi trình thẩm tra, phê duyệt. Trường hợp Kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan thanh tra đã thực hiện kiểm toán, thanh tra và kết luận có đủ nội dung theo quy định tại Điều 11 của Nghị định, cơ quan chủ trì thẩm tra được sử dụng trực tiếp kết quả này làm căn cứ thẩm tra, không phải thuê kiểm toán độc lập — quy định này giúp tránh trùng lặp, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các dự án đã qua thanh tra, kiểm toán.

d) Về thời hạn lập hồ sơ, thẩm tra, phê duyệt quyết toán

Đây là nội dung có ý nghĩa thực tiễn cao đối với công tác quản lý tiến độ dự án. Nghị định quy định thời gian tối đa cụ thể theo từng nhóm dự án như sau:

Nội dung  Dự án quan trọng quốc gia Nhóm A  Nhóm B Nhóm C
Chủ đầu tư lập hồ sơ quyết toán trình phê duyệt 09 tháng    09 tháng 06 tháng 04 tháng
Thẩm tra quyết toán 04 tháng04 tháng 2,5 tháng 02 tháng
Phê duyệt quyết toán   15 ngày  15 ngày   10 ngày   07 ngày  

Việc tuân thủ nghiêm các mốc thời gian nêu trên không chỉ là yêu cầu về kỷ luật hành chính mà còn là căn cứ để đánh giá trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và cơ quan chủ trì thẩm tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

e) Về chi phí kiểm toán độc lập, chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán

Nghị định quy định cụ thể tỷ lệ định mức chi phí kiểm toán độc lập và chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán theo thang giá trị dự án (từ dưới 5 tỷ đồng đến trên 10.000 tỷ đồng), kèm công thức nội suy áp dụng cho các giá trị trung gian. Đáng chú ý, các khoản chi phí này được tính là chi phí khác trong tổng mức đầu tư được duyệt của dự án; trường hợp dự án đã được nhà thầu kiểm toán độc lập, Kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan thanh tra thực hiện đầy đủ nội dung kiểm toán/thanh tra theo quy định, chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán được giảm 50% so với mức thông thường - đây là quy định khuyến khích các đơn vị chủ động phối hợp tốt với các cơ quan kiểm toán, thanh tra ngay từ giai đoạn thực hiện dự án.

f) Về kiểm tra và xử lý vi phạm

Cơ quan chủ quản, cơ quan cấp trên của chủ đầu tư và cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình thực hiện công tác quyết toán vốn đầu tư dự án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong quyết toán vốn đầu tư dự án, tùy theo mức độ, sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Đây là chế tài nghiêm khắc, đòi hỏi các đơn vị được giao làm chủ đầu tư, ban quản lý dự án trong Tổng công ty phải đặc biệt thận trọng, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời hạn quy định.

g) Về trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu

Chủ đầu tư, ban quản lý dự án có trách nhiệm đôn đốc nhà thầu thực hiện quyết toán hợp đồng; lập, quản lý hồ sơ và trình phê duyệt quyết toán đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của khối lượng, đơn giá, tính pháp lý của hồ sơ và số liệu đề nghị quyết toán; đồng thời có trách nhiệm thu hồi phần vốn thanh toán thừa hoặc thanh toán bổ sung phần vốn còn thiếu cho nhà thầu theo giá trị quyết toán được phê duyệt. Về phía nhà thầu, phải lập hồ sơ quyết toán hợp đồng đúng quy định, chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, phối hợp xử lý dứt điểm các nội dung còn tồn tại và hoàn trả kịp thời số vốn đã giải ngân sai chế độ (nếu có).

2. Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đối với các dự án đã nộp hồ sơ quyết toán về cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc đã ký hợp đồng kiểm toán độc lập trước thời điểm này, việc thực hiện tiếp tục theo quy định tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP. Các quyết toán A - B đã được chủ đầu tư và nhà thầu ký trước ngày Nghị định có hiệu lực thì không phải lập lại, ký lại. Đồng thời, Nghị định bãi bỏ một loạt điều khoản liên quan tại Nghị định số 254/2025/NĐ-CP (từ Điều 30 đến Điều 47 và một số nội dung khác), Nghị định số 88/2025/NĐ-CP và Nghị định số 358/2025/NĐ-CP. Các đơn vị cần rà soát kỹ để tránh áp dụng nhầm quy định đã hết hiệu lực.

Để bảo đảm việc tổ chức thực hiện công tác quyết toán vốn đầu tư dự án tại Tổng công ty tuân thủ đúng, đầy đủ quy định của Nghị định số 193/2026/NĐ-CP, các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các đơn vị được giao nhiệm vụ chủ đầu tư, ban quản lý dự án, các phòng nghiệp vụ kế hoạch - đầu tư, tài chính - kế toán tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Một là, chủ động nghiên cứu, cập nhật đầy đủ nội dung Nghị định, đặc biệt là các quy định về thẩm quyền phê duyệt, cơ quan chủ trì thẩm tra, thời hạn lập hồ sơ và thẩm tra, phê duyệt quyết toán để tổ chức thực hiện đúng ngay từ khi Nghị định có hiệu lực (01/7/2026).

Hai là, rà soát các dự án đang trong quá trình quyết toán để xác định dự án nào tiếp tục áp dụng theo Nghị định số 254/2025/NĐ-CP (đã nộp hồ sơ hoặc ký hợp đồng kiểm toán trước 01/7/2026) và dự án nào áp dụng theo Nghị định số 193/2026/NĐ-CP, tránh nhầm lẫn về căn cứ pháp lý và trình tự thủ tục.

Ba là, đối với các dự án có nhà thầu chậm trễ, không hợp tác trong công tác quyết toán hợp đồng, chủ đầu tư/ban quản lý dự án chủ động áp dụng đúng trình tự văn bản theo Mẫu số 02/QTDA (gửi đủ 03 lần, đúng khoảng cách thời gian tối thiểu) để có cơ sở pháp lý lập hồ sơ quyết toán theo quy định, bảo đảm tiến độ chung của dự án.

Bốn là, tuân thủ nghiêm các mốc thời gian lập, thẩm tra, phê duyệt quyết toán theo từng nhóm dự án; chủ động phối hợp với cơ quan tài chính, cơ quan thanh toán và các đơn vị liên quan để không làm chậm trễ, phát sinh vi phạm dẫn đến bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc trách nhiệm pháp lý cao hơn.

Năm là, đối với các dự án thuộc diện bắt buộc kiểm toán báo cáo quyết toán (dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A), chủ động tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị kiểm toán độc lập đúng quy định, phối hợp chặt chẽ với Kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra (nếu có) để tận dụng cơ chế sử dụng chung kết quả kiểm toán, thanh tra, giảm chi phí và rút ngắn thời gian thẩm tra.

Nghị định số 193/2026/NĐ-CP là văn bản pháp lý nền tảng, quy định thống nhất, chặt chẽ và có nhiều nội dung mới về công tác quyết toán vốn đầu tư dự án - lĩnh vực gắn liền trực tiếp với trách nhiệm quản lý vốn nhà nước của VATM trong quá trình đầu tư xây dựng, hiện đại hóa hệ thống trang thiết bị, hạ tầng bảo đảm hoạt động bay. Việc nắm vững và triển khai nghiêm túc các quy định của Nghị định không chỉ giúp Tổng công ty hoàn thành đúng thời hạn công tác quyết toán các dự án, tránh những rủi ro về pháp lý và tài chính, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Mỗi cán bộ, người lao động, đặc biệt là những người trực tiếp làm công tác quản lý dự án, tài chính - kế toán, cần chủ động nghiên cứu, cập nhật và vận dụng đúng quy định mới vào thực tiễn công việc, góp phần xây dựng VATM phát triển an toàn, minh bạch và bền vững.
                       

 Tổ triển khai các VBQPPL của VATM
 

Thông báo